Tóm tắt

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ luôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Họ đã có nhiều cống hiến to lớn trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Người phụ nữ Việt Nam không chỉ đẹp ở thiên chức làm vợ, làm mẹ mà bất cứ khi nào, ở đâu chúng ta cũng thấy những tấm gương tiêu biểu. Chính vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng: Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang. Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Nhà nước đã và đang tích cực xây dựng chính sách, pháp luật có liên quan trực tiếp tới LĐN nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trên cơ sở có tính đến những yếu tố khác biệt về sức khoẻ, trách nhiệm xã hội cũng như thiên chức làm mẹ của LĐN. Tỷ lệ tham gia thị trường lao động của phụ nữ Việt Nam ở mức cao đáng kể. Năm 2019, 70,9% phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi lao động tham gia lực lượng lao động. Tỷ lệ tương ứng ở cấp độ toàn cầu là 47,2%, và tỷ lệ ở Châu Á - Thái Bình Dương thậm chí còn thấp hơn, ở mức 43,9%[1]. Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 bùng phát đầu năm 2020 đã ảnh hưởng nặng nề tới các thị trường lao động trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, đại dịch đã gây ra tình trạng tăng trưởng chậm, sự suy giảm ở mức kỷ lục của lực lượng lao động và tỷ lệ thất nghiệp tăng. Những nhóm NLĐ chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi những tác động do đại dịch gây ra đối với thị trường lao động bao gồm lao động trong khu vực phi chính thức, lao động có trình độ - kỹ năng thấp và LĐN. “Cú sốc” này đối với thị trường lao động có tác động tiêu cực tới các quyền và chế độ BHXH dành cho LĐN. Do số lượng phụ nữ có việc làm và tham gia bảo hiểm giảm đi nên càng có ít phụ nữ được tiếp cận các chế độ ngắn hạn như ốm đau và thai sản. Điều này có thể mang tính tạm thời, tuy nhiên nếu việc phục hồi kinh tế diễn ra chậm chạp thì điều này có thể tác động lâu dài tới quá trình làm việc của LĐN, từ đó rút ngắn khoảng